Chí Linh quê tôi: Tin tức của Người Chí Linh

https://chilinhquetoi.com:443


Sử dụng hiệu quả nguồn lực, xây dựng Hải Dương sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại

Người Chí Linh trân trọng đăng toàn văn Báo cáo chính trị tóm tắt trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI do đồng chí Nguyễn Mạnh Hiển, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh trình bày.

Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH
LẦN THỨ XV (2010 - 2015)


Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV được triển khai thực hiện trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen. Tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, như tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông; khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu cùng những khó khăn chung về kinh tế trong cả nước đã tác động tiêu cực tới phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. 

Phát huy lợi thế, khắc phục khó khăn, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu giành được những kết quả quan trọng và khá toàn diện trên các lĩnh vực: kinh tế tăng trưởng cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đời sống nhân dân được nâng lên; văn hoá, xã hội có bước phát triển mới; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, công tác quốc phòng và quân sự địa phương được củng cố; công tác xây dựng Đảng, chính quyền và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. 

A. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRÊN CÁC LĨNH VỰC
I. KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG, AN NINH, THANH TRA, TƯ PHÁP

1. Phát triển kinh tế

Kinh tế tỉnh tăng trưởng ổn định; cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch khá nhanh theo hướng công nghiệp hóa. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân 7,7%/năm (giá cố định năm 1994), tăng bình quân 7,9%/năm (theo giá so sánh năm 2010). Năm 2015, quy mô kinh tế tỉnh gấp 1,83 lần năm 2010; GRDP bình quân đầu người đạt 2.000 USD, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,690. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp tăng nhanh; tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ chuyển dịch từ 20,1% - 47,7% - 32,2% năm 2010 sang 15,9% - 52,5% - 31,6% năm 2015. Cơ cấu lao động tương ứng chuyển dịch mạnh, từ 47,9% - 31,4% - 20,7% năm 2010 sang 36,5% - 35,0% - 28,5% năm 2015. Triển khai và đạt kết quả bước đầu trong tái cơ cấu kinh tế, tỷ trọng huy động vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước và đầu tư nước ngoài tăng từ 68,4% năm 2010 lên 72,1% năm 2015.

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân 3,1%/năm. Giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản tăng từ 94,4 triệu đồng năm 2010 lên 125,3 triệu đồng năm 2015. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi - thuỷ sản, giảm tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt - lâm nghiệp. Giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng bình quân 2,2%/năm; giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng bình quân 4,5%/năm; giá trị sản xuất ngành thủy sản tăng bình quân 5,3%/năm. 

Phong trào xây dựng nông thôn mới đã được sự quan tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tạo được sự đồng thuận của nhân dân. Bằng nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ và các biện pháp đồng bộ, hiệu quả, kết quả đến hết năm 2015 toàn tỉnh có 64 xã hoàn thành đủ tiêu chí nông thôn mới, đạt tỷ lệ 28,3%, vượt mục tiêu đề ra. Kết cấu hạ tầng nông thôn được chú trọng đầu tư như đường giao thông, hệ thống cấp nước sạch, nhà văn hoá thôn, khu dân cư... Công tác dồn điền đổi thửa, chỉnh trang đồng ruộng, quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung được quan tâm thực hiện. 

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 12%/năm. Quy mô ngành công nghiệp năm 2015 gấp gần 2,2 lần năm 2010. Cơ cấu ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, phát triển một số ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh. Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề phát triển ổn định, giá trị sản xuất tăng bình quân 6,1%/năm. Quy hoạch 18 khu công nghiệp, trong đó có 10 khu đã được đầu tư hạ tầng, tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt 60%; quy hoạch 36 cụm công nghiệp, thu hút 301 dự án đầu tư. 

Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng bình quân 10,2%/năm. Công tác quản lý xây dựng và quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị có bước chuyển biến. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân 6,8%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 15,3%/năm. Tổng giá trị xuất khẩu 5 năm đạt 17 tỷ USD, tăng bình quân 22,9%/năm. Dịch vụ du lịch tăng bình quân 7,2%/năm về lượt khách và 13,1%/năm về doanh thu. Dịch vụ vận tải phát triển đa dạng, khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng bình quân 13%/năm, hành khách luân chuyển tăng bình quân 11,2%/năm. Dịch vụ bưu chính, viễn thông tăng nhanh cả về số lượng, chất lượng. Phát triển nhiều dịch vụ ngân hàng tiện ích, tốc độ huy động vốn tăng bình quân 22,3%/năm, tăng trưởng đầu tư tín dụng đạt 11,9%/năm. Dịch vụ bảo hiểm phát triển đa dạng, doanh thu tăng bình quân 16,5%/năm. 

Triển khai đồng bộ các biện pháp để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt trên 135 nghìn tỷ đồng, bằng 93,1% mục tiêu đề ra. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm đạt 40.730 tỷ đồng, trong đó thu ngân sách nội địa đạt 27.488 tỷ đồng, tăng bình quân 7,1%/năm.

Các nguồn vốn huy động được quản lý, phân bổ, sử dụng hiệu quả, tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Một số công trình trọng điểm, quan trọng được tích cực triển khai thực hiện như: cầu Hàn, Nhà máy chế biến rác thải sinh hoạt, Nút giao lập thể tại Ngã Ba hàng, cầu Chanh, cầu Ràm, Đường 62 m kéo dài, đường trục Bắc -Nam, đường vào Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc... Hoàn thành và đưa vào sử dụng gần 80 công trình cấp nước sạch. Hạ tầng văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư: xây dựng mới 1.811 phòng học kiên cố; cơ bản hoàn thành việc xây dựng, nâng cấp một số bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện; tu bổ, tôn tạo, chống xuống cấp 54 lượt di tích xếp hạng; hoàn thành một số công trình, dự án trong Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc... 

Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển,kinh tế nhà nước tăng bình quân 1,4%/năm, chiếm tỷ trọng 17,9%; kinh tế tư nhân tăng bình quân 5,7%/năm, chiếm tỷ trọng 49,2%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng bình quân 16,9%/năm, chiếm tỷ trọng 32,2%; kinh tế tập thể từng bước được đổi mới, chiếm tỷ trọng 0,7% trong tổng sản phẩm của tỉnh. 

Công tác lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý, thực hiện quy hoạch được chú trọng. Lập mới, điều chỉnh, bổ sung kịp thời các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, nông thôn... Chương trình phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh được thực hiện tốt; tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 21% năm 2010 lên 25,7% vào cuối năm 2015; tích cực thực hiện việc nâng cấp thành phố Hải Dương lên đô thị loại I, thị xã Chí Linh lên đô thị loại III, huyện Kinh Môn lên thị xã.

2. Phát triển văn hoá, xã hội 

Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, sớm hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học mức độ II. Cơ sở vật chất trường, lớp học được quan tâm đầu tư; hết năm 2015 toàn tỉnh có 487 trường học đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 52,2%, tăng 179 trường so với năm 2010. Mạng lưới hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp được duy trì. Công tác xã hội hóa giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh. 
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ, đã thành lập mới và đưa vào hoạt động một số bệnh viện chuyên khoa cấp tỉnh. Y tế dự phòng được chú trọng. Các chương trình mục tiêu quốc gia được thực hiện tốt, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 99%; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 16,6% năm 2010 xuống 12,2% năm 2015. Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế tăng từ 58,0% năm 2010 lên 75,1% vào năm 2015. Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình được quan tâm thực hiện. 

Giải quyết việc làm, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội được quan tâm; đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên. Bình quân hàng năm tạo việc làm mới cho 3,3 vạn lao động. Xuất khẩu lao động được đẩy mạnh. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 10,99% năm 2010 xuống còn 3,27% năm 2015, bình quân mỗi năm giảm 1,5%. Tỉnh hỗ trợ xây dựng nhà ở cho 3.371 hộ nghèo theo Quyết định 167 của Chính phủ (bằng 134,8% kế hoạch); Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đã huy động hỗ trợ nhà ở cho 1.886 hộ nghèo, khó khăn. Thực hiện tốt các chính sách đối với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em và chính sách bình đẳng giới. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 31 triệu đồng. 

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” có bước phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Toàn tỉnh có 85% gia đình văn hoá, 75,8% làng, khu dân cư văn hóa; 85% cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hoá. Hoạt động văn học nghệ thuật có bước phát triển. Công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa được chú trọng, khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đã được công nhận xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt, 02 lễ hội được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Các thiết chế văn hoá, thể dục thể thao ở cơ sở được quan tâm đầu tư xây dựng. Phong trào thể dục thể thao được duy trì. 

Thông tin và truyền thông được đẩy mạnh, hoàn thiện và nâng cấp hạ tầng; 100% các xã, phường, thị trấn được phủ sóng điện thoại di động và Internet băng rộng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan đảng, nhà nước được đẩy mạnh. Quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, truyền thanh, thông tin điện tử được tăng cường. Hệ thống báo chí, truyền thông trên địa bàn tỉnh được quan tâm đầu tư, nâng cao chất lượng và có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức.

3. Hoạt động khoa học và công nghệ, quản lý tài nguyên và môi trường 

Hoạt động khoa học và công nghệ được chú trọng đầu tư theo hướng hiệu quả, thiết thực. Đầu tư 147,5 tỷ đồng từ ngân sách các cấp cho sự nghiệp khoa học và công nghệ; thực hiện 158 nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Phần lớn các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được lựa chọn có ý nghĩa thiết thực, tập trung vào các đề tài ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ trên các lĩnh vực, nhất là trong sản xuất nông nghiệp. Hệ thống quản lý khoa học và công nghệ từng bước được kiện toàn.

Công tác quản lý, khai thác, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản có chuyển biến tích cực. Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Cơ bản hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở. Tăng cường công tác kiểm tra việc quản lý, khai thác, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản. 

Công tác quản lý và bảo vệ môi trường được tăng cường. Ô nhiễm môi trường ở khu vực sản xuất công nghiệp tập trung, bệnh viện, đô thị và khu vực nông thôn được quan tâm xử lý. Đến nay, 100% các khu công nghiệp đã xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn; nhiều cơ sở sản xuất ngoài khu công nghiệp đã thực hiện các biện pháp xử lý môi trường; tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải khu vực đô thị đạt gần 80%, khu vực nông thôn đạt hơn 60%. 

4. Quốc phòng, an ninh, thanh tra, tư pháp

Cấp uỷ, chính quyền các cấp đã thường xuyên chăm lo công tác quân sự địa phương, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh ngày càng vững chắc. Công tác tuyển quân, giáo dục kiến thức quốc phòng - an ninh, huấn luyện, diễn tập, hội thi, hội thao, phòng chống lụt bão, úng, tìm kiếm cứu nạn, phòng chống cháy nổ, cháy rừng và chính sách hậu phương quân đội được chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện nghiêm túc.

An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động kích động, biểu tình, bạo loạn. Đảm bảo vững chắc an ninh trên các lĩnh vực: văn hóa tư tưởng, kinh tế, tôn giáo. Công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm đạt kết quả tích cực. Giải quyết cơ bản dứt điểm một số "điểm nóng" phức tạp kéo dài trên địa bàn tỉnh; trật tự an toàn giao thông có chuyển biến tích cực.

Công tác thanh tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được tập trung chỉ đạo; đã thực hiện được 3.026 cuộc thanh tra. Nội dung thanh tra đã gắn với công tác phòng chống tham nhũng lãng phí, thực hành tiết kiệm; tập trung vào những lĩnh vực dễ xảy ra tiêu cực, sai phạm. Công tác tiếp dân của cơ quan quản lý nhà nước các cấp, các ngành có chuyển biến rõ nét. Chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được nâng lên. Tập trung chỉ đạo kiểm tra, rà soát, giải quyết, xử lý các vụ việc phức tạp đông người ở một số địa phương. 

Triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Thực hiện tốt quy chế phối hợp trong việc điều tra, truy tố, xét xử. Hoạt động của Viện kiểm sát và Toà án hai cấp đảm bảo đúng qui định của pháp luật, đổi mới, nâng cao chất lượng và cơ bản đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Công tác thi hành án đạt kết quả tốt.  

5. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế  

Công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung về hội nhập quốc tế được tăng cường. Hoạt động đối ngoại được đẩy mạnh, đạt kết quả tích cực, qua 5 năm đã thu hút được 107 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với số vốn đầu tư đăng ký mới trên 4 tỷ USD.  

Hoạt động đối ngoại nhân dân được đổi mới và nâng cao hiệu quả. Quan hệ hợp tác hữu nghị với các địa phương nước ngoài đi vào chiều sâu như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài được triển khai thực hiện, đạt kết quả thiết thực.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN, MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ CÁC ĐOÀN THỂ NHÂN DÂN

1. Công tác xây dựng Đảng

Công tác chính trị, tư tưởng được coi trọng và tăng cường. Tập trung chỉ đạo việc học tập quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2010-2015 và các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đảm bảo nghiêm túc và có sự đổi mới về hình thức tổ chức, nâng cao chất lượng. Công tác thông tin, tuyên truyền, nắm bắt tình hình, định hướng dư luận xã hội, giáo dục lý luận chính trị, biên soạn lịch sử Đảng tiếp tục được tăng cường. 

Triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tổ chức tốt việc học tập các chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hằng tháng. Các cơ quan, đơn vị đã xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tích cực cụ thể hoá việc học tập thành các phong trào, cuộc vận động thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị; chất lượng và hiệu quả việc làm theo gương Bác được nâng lên.

Phương thức lãnh đạo, hoạt động của các cấp uỷ từ tỉnh đến cơ sở có nhiều đổi mới, coi trọng việc xây dựng và thực hiện quy chế làm việc, chương trình, kế hoạch công tác; quy định rõ chức trách, thẩm quyền, chế độ làm việc của tập thể và cá nhân. Chỉ đạo các mặt công tác có trọng tâm, trọng điểm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Tập trung cải tiến, đổi mới quy trình và nâng cao chất lượng ra nghị quyết, chất lượng tổ chức các cuộc họp, hội nghị phát huy được trí tuệ tập thể, dân chủ trong Đảng và vai trò của các cơ quan tham mưu.

Công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng được quan tâm chỉ đạo; tiến hành tổng kết mô hình thí điểm chi bộ cơ quan xã, phường, thị trấn; sắp xếp mô hình chi bộ có đông đảng viên và thôn, khu dân cư có nhiều chi bộ. Công tác đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên hằng năm được thực hiện nghiêm túc. Phong trào thi đua xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiếp tục được duy trì tốt; bình quân hằng năm có trên 78% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh. Công tác kết nạp đảng viên được quan tâm, bình quân mỗi năm kết nạp  2.700 đảng viên. 

Tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh, cấp huyện được thực hiện đúng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) và các nghị định của Chính Phủ. Thành lập Ban Nội chính Tỉnh ủy; rà soát, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế các cơ quan tham mưu giúp việc cấp ủy, chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện. Tiếp tục rà soát, sắp xếp tổ chức các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa theo hướng tinh gọn.

Công tác tổ chức, cán bộ được quan tâm thực hiện đồng bộ ở các khâu và bảo đảm theo các quy chế, quy định hiện hành của Trung ương, của Tỉnh uỷ. Công tác tuyển dụng công chức, viên chức được thực hiện dân chủ, công khai và đúng quy chế. Công tác đánh giá, quy hoạch cán bộ được thực hiện nền nếp. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thường xuyên được quan tâm. Công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, bố trí và sử dụng cán bộ được triển khai chặt chẽ, đúng quy trình. Công tác luân chuyển cán bộ bước đầu đạt kết quả tốt; trong nhiệm kỳ các cấp ủy đã luân chuyển 143 lượt cán bộ. Việc khắc phục những hạn chế, yếu kém sau kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về xây dựng Đảng trong công tác tổ chức, cán bộ được thực hiện nghiêm túc. 

Hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong Đảng được tăng cường. Các cấp uỷ, tổ chức đảng thường xuyên coi trọng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát; xây dựng và triển khai thực hiện nghiêm túc các cuộc kiểm tra theo chương trình toàn khoá, hàng năm và các cuộc kiểm tra theo sự chỉ đạo của cấp trên. Trong nhiệm kỳ, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 5.701 tổ chức đảng và 4.312 đảng viên, giám sát 688 tổ chức đảng và 337 đảng viên. Ủy ban kiểm tra các cấp chú trọng thực hiện nhiệm vụ theo quy định Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp uỷ giao; tăng cường kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm; trong nhiệm kỳ đã kiểm tra 168 tổ chức, 700 đảng viên, giám sát 1.688 tổ chức đảng và 3.051 đảng viên. Tích cực giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của tổ chức đảng và đảng viên; thi hành kỷ luật trong Đảng nghiêm túc, đúng nguyên tắc; trong nhiệm kỳ đã thi hành kỷ luật 18 tổ chức đảng, 1.224 đảng viên.  

Công tác dân vận được cả hệ thống chính trị trong tỉnh quan tâm thực hiện. Các cấp uỷ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt quy chế công tác dân vận, quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; chỉ đạo, định hướng chương trình, nội dung công tác dân vận và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; đồng thời ban hành nhiều chương trình, nghị quyết, văn bản chỉ đạo về công tác dân vận. Hệ thống dân vận các cấp từng bước được củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động. 

Tập trung lãnh đạo và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp về công tác nội chính và phòng chống tham nhũng; đẩy nhanh việc đưa ra xét xử các vụ án tham nhũng; chấn chỉnh kỷ cương trong hoạt động của các cơ quan hành chính, nâng cao tính công khai, minh bạch. 100% cơ quan, đơn vị trong tỉnh đã thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập đối với các cán bộ phải kê khai. Công tác thực hành tiết kiệm được quan tâm chỉ đạo, nhất là trong những lĩnh vực trọng điểm như cho thuê đất, quản lý tài chính, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản công. 

2. Công tác xây dựng chính quyền

Hoạt động của HĐND các cấp tiếp tục được đổi mới, đi vào thực chất hơn; hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND các cấp ngày được nâng lên. Các kỳ họp của HĐND đã được đổi mới và nâng cao chất lượng. Vai trò đại diện của đại biểu HĐND các cấp thực hiện tốt hơn và đi vào nền nếp. Công tác phối hợp giữa Thường trực HĐND với UBND và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ngày càng chặt chẽ, hiệu quả. Hoạt động tiếp xúc cử tri và công tác dân nguyện của HĐND và đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh và được thực hiện theo đúng luật định.

Năng lực quản lý, điều hành của UBND các cấp được nâng lên. UBND các cấp đã quan tâm đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao năng lực quản lý; chủ động cụ thể hoá các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và nghị quyết của HĐND các cấp thành các đề án, kế hoạch và tập trung chỉ đạo huy động các nguồn lực để triển khai thực hiện. Mối quan hệ phối hợp giữa UBND các cấp với các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể cùng cấp và ngành dọc cấp trên được duy trì thường xuyên. 

Tập trung chỉ đạo triển khai Đề án cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” đối với các cơ quan hành chính nhà nước ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã. Các thủ tục hành chính đã từng bước được đơn giản hóa, công khai hóa, kiên quyết loại bỏ những thủ tục hành chính còn rườm rà không cần thiết, bố trí bộ phận “một cửa hiện đại” hoạt động tại cấp huyện và một số sở ngành tỉnh. Việc phân cấp quản lý nhà nước giữa các cấp chính quyền được đẩy mạnh trên một số lĩnh vực. Công tác cải cách tài chính công được quan tâm thực hiện; khoán kinh phí cho các cơ quan chuyên môn thuộc UBND và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế, kinh phí quản lý hành chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập. 

3. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân 

Thực hiện tốt việc tuyên truyền, vận động, đa dạng hóa các hình thức tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân và không ngừng củng cố, mở rộng tổ chức. Tỷ lệ kết nạp, phát triển đoàn viên, hội viên trong các tổ chức đoàn thể ngày một tăng; khối đại đoàn kết toàn dân trong tỉnh ngày càng được củng cố vững chắc. 

Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, quan tâm chăm lo bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát động. Một số phong trào, cuộc vận động thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và đạt hiệu quả cao. Đồng thời, chủ động tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền; tham gia ý kiến xây dựng Hiến pháp và dự thảo một số bộ luật, chương trình, dự án, cơ chế, chính sách...; triển khai thực hiện đạt kết quả bước đầu Quy chế giám sát và phản biện xã hội, Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; quan tâm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.  

B. HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN
I. HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1. Lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, thanh tra, tư pháp

Tăng trưởng kinh tế còn chậm, chưa bền vững; môi trường đầu tư chưa có bước đột phá, quản lý sau cấp phép đầu tư chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ. Chưa gắn kết được giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp chưa tạo được bước bứt phá, các ngành công nghiệp công nghệ cao còn ít, công nghiệp phụ trợ thiếu và chậm phát triển. Khả năng huy động vốn đầu tư còn ở mức thấp, hiệu quả đầu tư chưa cao. Tiến độ thực hiện một số dự án trọng điểm chậm. Chất lượng công tác quy hoạch nhìn chung còn hạn chế; quy hoạch vùng, ngành sản xuất chậm và chưa rõ định hướng; quản lý quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị và hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế và thiếu đồng bộ. 

Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực còn thấp và chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu sử dụng, cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực bất hợp lý. Năng lực y tế ở tuyến xã còn hạn chế, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên và mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn ở mức cao. Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cơ sở còn thiếu. 

Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống còn hạn chế. Quản lý, sử dụng tài nguyên khoáng sản ở một số địa phương bộc lộ nhiều yếu kém, gây lãng phí; tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn ngày càng gia tăng; làng nghề và một số doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp chưa thực hiện nghiêm các biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định.

Tình hình trật tự xã hội còn diễn biến phức tạp, việc xử lý khiếu kiện đông người ở một số khu vực nông thôn còn chậm. Tình trạng tai nạn giao thông còn ở mức cao, tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp. Việc tiếp dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo có nơi chưa thực hiện theo đúng quy định. Chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương chưa cao. Việc thực hiện các kết luận, kiến nghị thanh tra ở một số nơi chưa kịp thời, nhất là xử lý kỷ luật cán bộ, công chức sai phạm.

2. Lĩnh vực xây dựng Đảng, chính quyền, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân 

Công tác tư tưởng có lúc, có nơi chưa chủ động, chưa theo kịp với diễn biến của tình hình. Đánh giá cán bộ là khâu yếu trong công tác cán bộ; công tác quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động còn bất cập. Cơ cấu đội ngũ cán bộ vẫn thiếu đồng bộ, chưa hợp lý. Chính sách thu hút nhân tài, sử dụng người tài vào làm việc ở các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp của tỉnh chưa hiệu quả. Chất lượng các cuộc kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy, tổ chức đảng hạn chế; nội dung kiểm tra, giám sát dàn trải; việc thi hành kỷ luật trong Đảng của một số tổ chức đảng chưa nghiêm. Công tác dân vận của chính quyền một số nơi chưa được chú trọng; sự phối hợp của chính quyền, các cơ quan nhà nước với Ban Dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong thực hiện một số nhiệm vụ chưa chặt chẽ, thường xuyên. Việc thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng kết quả còn hạn chế và chưa phát huy được vai trò của xã hội trong phòng, chống tham nhũng. 

Công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp có lúc, có nơi còn lúng túng, chồng chéo, thiếu chủ động, hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Năng lực dự báo còn yếu, chất lượng công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án… phát triển kinh tế - xã hội chưa cao. Cải cách hành chính chuyển biến chậm, một số thủ tục hành chính rườm rà, bất hợp lý. Việc giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa liên thông” đạt hiệu quả chưa cao. Việc phân cấp quản lý nhà nước giữa các cấp chính quyền nhiều việc chưa cụ thể và có nội dung chưa phù hợp; chức năng, nhiệm vụ một số đơn vị còn chồng chéo. 

Nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở một số nơi có mặt chậm đổi mới so yêu cầu; chưa thật sự gắn bó và đáp ứng yêu cầu chính đáng, tâm tư nguyện vọng của đoàn viên, hội viên và nhân dân.

II. NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ

1. Nguyên nhân khách quan: 

Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, cùng với những khó khăn về kinh tế trong nước đã tác động không nhỏ đến việc thực hiện các mục tiêu đề ra, tới hoạt động thu hút đầu tư, sản xuất, kinh doanh, thu ngân sách nhà nước. Những mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đã ảnh hưởng trực tiếp và tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực cũng như các tầng lớp nhân dân. Một số chủ trương, cơ chế, chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước thay đổi nhanh chóng, làm cho việc tổ chức thực hiện và điều hành ở địa phương bị động và còn lúng túng.

2. Nguyên nhân chủ quan

Việc xây dựng các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu cho cả nhiệm kỳ được thực trong bối cảnh kinh tế đang duy trì mức tăng trưởng cao; bên cạnh đó, năng lực dự tính, dự báo còn hạn chế, chưa lường trước được hết các yếu tố không thuận lợi nên một số chỉ tiêu đưa ra cao, chưa sát với thực tế. Năng lực tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách cho phát triển kinh tế còn hạn chế; việc phản hồi, điều chỉnh chính sách chậm, thiếu kịp thời. Việc cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện một số chủ trương của cấp ủy thiếu chủ động và quyết liệt, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện còn hạn chế, trách nhiệm cá nhân chưa được đề cao. Công tác quản lý, điều hành có nơi, có lúc thiếu chặt chẽ, cụ thể, chưa có trọng tâm, trọng điểm. Một số cấp ủy đảng, chính quyền, nhất là ở cơ sở chưa có giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, quyết liệt, hiệu quả.

Một số cấp uỷ chưa thực sự coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và phát huy dân chủ xã hội; nhận thức chưa đầy đủ vai trò, vị trí quan trọng của công tác xây dựng Đảng ở cơ sở nên chưa quan tâm chỉ đạo việc xây dựng củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở; chậm đổi mới trong công tác cán bộ; còn có biểu hiện coi nhẹ công tác kiểm tra; chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận. 

Một số cấp ủy Đảng, chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị chưa thật sự coi trọng và quan tâm chỉ đạo việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp quản lý nhà nước và cải cách tài chính công. Việc phối hợp giữa các cấp, các ngành còn nhiều việc chưa tốt. Việc kiểm tra, chấn chỉnh những hạn chế, yếu kém trong thực hiện cải cách hành chính, nhất là xử lý những cá nhân sai phạm chưa quyết liệt. Người đứng đầu một số cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp chưa phát huy tốt vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong công tác. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức ý thức, trách nhiệm chưa cao, năng lực, trình độ hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được giao. 

C. MỘT SỐ KINH NGHIỆM   

1. Luôn coi trọng sự đoàn kết, thống nhất trong tổ chức Đảng. Xác định rõ vai trò, trách nhiệm, tinh thần gương mẫu của người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi đây là khâu đột phá quan trọng nhất trong công tác xây dựng Đảng.

2. Nâng cao chất lượng công tác dự báo, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển; việc xác định các mục tiêu, chỉ tiêu cần tập trung, chọn lọc, tránh dàn trải và phải phù hợp với khả năng cân đối và bố trí nguồn lực để thực hiện. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các chủ trương, cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. 

3. Coi trọng việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách, quy hoạch, kế hoạch nhằm phát huy các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển; tập trung nguồn lực để giải quyết những nhiệm vụ cấp bách trước mắt, giải quyết dứt điểm các yếu kém, những vấn đề bức xúc tạo đột phá cho phát triển.

4. Phải xác định rõ các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm trong từng bối cảnh, điều kiện và thời điểm cụ thể để đề ra các nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo thực hiện phù hợp, sáng tạo; đồng thời luôn coi trọng công tác tuyên truyền, vận động, đối thoại, tạo sự đồng thuận cao trong các cấp, các ngành, MTTQ, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện hiệu quả, tạo sức lan tỏa và động lực thúc đẩy sự phát triển. 

5. Phải coi trọng mục tiêu phát triển nhanh và phát triển bền vững, đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ nhưng luôn chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa; cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân và gìn giữ, bảo vệ, cải thiện môi trường; giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội nổi cộm phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế.

Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
TRỌNG TÂM NHIỆM KỲ 2015-2020

A. DỰ BÁO TÌNH HÌNH TRONG 5 NĂM TỚI 

I. THUẬN LỢI

Trong giai đoạn 2015 - 2020, dự báo kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động, việc hình thành cộng đồng chung ASEAN sẽ mở ra những cơ hội mới. Trong nước, tình hình kinh tế vĩ mô đang dần ổn định; nhiều cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư, tái cơ cấu, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế đã và đang được triển khai tích cực. Một số hiệp định thương mại song phương, đa phương đang đàm phán và được ký kết trong thời gian tới sẽ mở ra cơ hội mới cho thúc đẩy đầu tư, xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước.

Tình hình chính trị, xã hội trong tỉnh tiếp tục ổn định; những thành tựu đạt được sau 30 năm đổi mới sẽ tiếp tục tạo đà cho việc thực hiện nhiệm vụ kế hoạch giai đoạn 2016-2020; một số dự án sản xuất công nghiệp lớn và các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng quan trọng đang được đẩy nhanh tiến độ đầu tư, có khả năng đưa vào khai thác, vận hành từ đầu nhiệm kỳ. Với vị trí thuận lợi trong không gian phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng đồng bằng Sông Hồng và vùng Thủ đô cùng với tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng được đưa vào sử dụng, tỉnh Hải Dương có tiềm năng trong mở rộng giao lưu hợp tác thương mại và đầu tư với các tỉnh trong vùng và khu vực. 

II. KHÓ KHĂN

Việc triển khai thực hiện Kế hoạch 5 năm 2016-2020 đứng trước nhiều khó khăn, thách thức phải giải quyết, đó là: dự báo kinh tế thế giới phục hồi chậm, không đồng đều và còn tiềm ẩn nhiều khó khăn. Trong nước, việc tái cơ cấu kinh tế chậm, quy mô kinh tế tỉnh còn nhỏ; chất lượng và sức cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp, sản phẩm cũng như chất lượng nhân lực còn thấp; tăng trưởng chủ yếu vẫn dựa vào vốn và lao động. Khả năng cân đối ngân sách, nhất là bố trí vốn cho đầu tư phát triển còn nhiều khó khăn. Thời tiết, dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, có thể tác động tiêu cực tới sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.

B. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU  


I. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khai thác, phát huy tối đa lợi thế của tỉnh với vị trí nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, đồng thời là vệ tinh trong không gian phát triển vùng Thủ đô, có hạ tầng giao thông phát triển. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển nhanh các ngành có lợi thế, có giá trị gia tăng cao; chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và cải thiện môi trường đầu tư. Phát triển kinh tế nhanh đi đôi với  phát triển văn hóa; cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân và bảo vệ môi trường. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng, củng cố quốc phòng, quân sự địa phương; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phấn đấu xây dựng Hải Dương sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.

II. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU 

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng bình quân 8 ÷ 8,5%/năm.

2. Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn đến năm 2020: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 11%; Công nghiệp, xây dựng 56%; Dịch vụ 33%.

3. Năm 2020, GRDP bình quân đầu người đạt 3.200 USD trở lên; thu nhập bình quân đầu người đạt 55 triệu đồng.

4. Tỷ lệ vốn đầu tư phát triển trên địa bàn so với tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đạt 32%/năm.

5. Giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đạt 150 triệu đồng/ha vào năm 2020.

6. Giá trị hàng hóa xuất khẩu tăng bình quân 15%/năm.

7. Thu ngân sách nội địa tăng bình quân 10%/năm trở lên.

8. Cơ cấu lao động đến năm 2020: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 27%; công nghiệp, xây dựng 42%; dịch vụ 31%.

9. Lao động qua đào tạo đến năm 2020 đạt 75%; trong đó có chứng chỉ đạt 30%. 

10. Chỉ số phát triển con người (HDI) đến năm 2020 đạt 0,725.

11. Tỷ lệ xã được công nhận xã nông thôn mới đến năm 2020 đạt trên 60%.

12. Tỷ lệ đô thị hoá đến năm 2020 đạt  33-35%.

13. Tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia đến năm 2020 là 67,0% (trong đó: Mầm non 52,0%; Tiểu học 99,0%; Trung học cơ sở 53,0%; Trung học phổ thông 56,0%).

14. Năm 2020 đạt 30 giường bệnh/10.000 người dân (tính cả trạm y tế cấp xã đạt 37 giường bệnh/10.000 người dân); 09 bác sĩ /10.000 người dân; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 8,5%.

15. Tỷ lệ hộ nghèo giảm trung bình trên 1,0 %/năm.

16. Năm 2020 tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 87% dân số.

17. Năm 2020, tỷ lệ làng, khu dân cư văn hóa đạt 80%; tỷ lệ cơ quan văn hóa đạt 90%.

18. Năm 2020, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch đạt 100%; trên 90% chất thải nguy hại, trên 95% chất thải y tế, 75% rác thải nông thôn và 95% chất thải rắn đô thị được xử lý.

19. Hằng năm, có trên 75% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh; mỗi năm kết nạp từ 2.500 đảng viên trở lên.

20. Hằng năm, có trên 80% tổ chức cơ sở của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đạt vững mạnh.

C. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI; ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH; CÔNG TÁC THANH TRA, TƯ PHÁP

1. Phát triển kinh tế

a. Tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của tỉnh 

- Sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn:

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; cơ cấu lại các ngành trong sản xuất nông nghiệp đi đôi với đổi mới phương thức tổ chức sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn. Phấn đấu giá trị tăng thêm nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân 1,7 - 2%/năm. 

Quy hoạch và phát triển các loại cây trồng, vật nuôi chủ lực, có năng suất, chất lượng cao; mở rộng quy mô, hiệu quả các vùng chuyên canh sản xuất lúa chất lượng cao, lúa đặc sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản; chú trọng phát triển sản xuất theo quy mô công nghiệp, trang trại. Huy động và đa dạng hoá các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tập trung xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại các sản phẩm nông nghiệp. 

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Huy động tổng hợp nhiều nguồn lực, ưu tiên đầu tư hoàn thiện các tiêu chí về hạ tầng thiết yếu; tiếp tục dồn ô đổi thửa, chỉnh trang đồng ruộng, quy hoạch vùng sản xuất; giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo nông thôn phát triển bền vững.

- Công nghiệp, xây dựng:

Phấn đấu giá trị tăng thêm công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 10,5 - 11%/năm, trong đó giá trị tăng thêm công nghiệp tăng bình quân 10,6 - 10,9%/năm. Tái cơ cấu các ngành công nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, giá trị gia tăng cao và công nghiệp phụ trợ. Tập trung phát triển một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu, ưu đãi và thu hút các dự án chế biến nông sản. Chủ động xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đẩy mạnh hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, xác lập quyền sở hữu trí tuệ.

Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng các ngành sản xuất trong lĩnh vực xây dựng. Lập điều chỉnh quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; xây dựng chương trình phát triển vật liệu xây không nung; khuyến khích đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng mới.

- Thương mại, dịch vụ:

Phấn đấu giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ tăng bình quân 7,2%/năm. Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại; xây dựng các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào một số lĩnh vực dịch vụ công, dịch vụ có tiềm năng phát triển như: tài chính, ngân hàng, viễn thông, du lịch, vận tải, tư vấn, dịch vụ thể thao...; nâng cao chất lượng hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực trong ngành dịch vụ. Duy trì và giữ vững các thị trường xuất khẩu truyền thống, tích cực thâm nhập các thị trường lớn: EU, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý thị trường.

Từng bước hình thành các tuyến, sản phẩm du lịch có chất lượng; gắn du lịch văn hóa với các di tích, danh thắng như: Côn Sơn - Kiếp Bạc - Thanh Mai, An Phụ - Kính Chủ, Văn miếu Mao Điền...; du lịch các vùng sinh thái, du lịch làng nghề. Tập trung cải tạo, nâng cấp hạ tầng du lịch; đẩy mạnh công tác quảng bá, xúc tiến du lịch. Tăng cường sự liên kết, phối hợp phát triển du lịch với các tỉnh thành.

Tiếp tục cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, mở rộng mạng lưới kinh doanh dịch vụ bảo hiểm. Khuyến khích các loại hình dịch vụ chất lượng cao.

-  Phát triển các thành phần kinh tế:

Tạo môi trường bình đẳng, thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế; quan tâm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa; thực hiện tốt công tác hỗ trợ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, kiểu dáng sản phẩm, xuất xứ hàng hóa đối với các doanh nghiệp. Hoàn thiện quy chế phối hợp và tăng cường quản lý doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật Hợp tác xã; đổi mới hoạt động các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, khuyến khích phát triển hợp tác xã chuyên ngành và kinh tế trang trại.

b. Tiếp tục cải thiện, tạo sức hấp dẫn mới về môi trường đầu tư, kinh doanh; huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển; tăng cường liên kết vùng; đẩy nhanh tốc độ xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

Thực hiện đồng bộ các biện pháp cải thiện căn bản môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; đưa tỉnh Hải Dương đứng vào nhóm 20 tỉnh, thành phố trong cả nước có chỉ số Năng lực cạnh tranh (PCI) tốt nhất và nhóm 25 tỉnh có chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh tốt nhất. Thực hiện công khai, minh bạch về quy hoạch, thủ tục hành chính và chính sách thu hút đầu tư; đồng thời rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của tỉnh cho phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước sau cấp phép đầu tư. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý tài chính, tiền tệ theo hướng minh bạch, hiệu quả, nhất là đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Quan tâm phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu. Đổi mới công tác xây dựng và điều hành dự toán chi ngân sách. Thực hiện tốt quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, hoạt động ngoại hối, chính sách tín dụng trên địa bàn tỉnh. 

Huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển, trong đó ưu đãi vào lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, khu vực nông nghiệp, nông thôn và chế biến nông sản thực phẩm. Đổi mới công tác bố trí vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước theo Luật Đầu tư công. Xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch đầu tư trung hạn. Bố trí vốn để tham gia các dự án hợp tác công tư và xây dựng nông thôn mới. Không bố trí vốn cho các dự án mà các thành phần kinh tế ngoài nhà nước có khả năng tham gia đầu tư. Khuyến khích thực hiện đầu tư theo hình thức hợp tác công tư để đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng và phát triển các khu đô thị, khu dân cư. Từ năm 2015 đến năm 2020 tập trung đầu tư xây dựng một số công trình trọng điểm sau:

(1). Dự án xây dựng đường trục Bắc - Nam tỉnh.

(2). Dự án phát triển khu dịch vụ, du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng quy mô 300 ha tại khu vực di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc.

(3). Dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật Khu văn hóa - Thể thao tỉnh và Trung tâm huấn luyện bóng bàn.

(4). Dự án xây dựng Khu hành chính tập trung tỉnh theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).

Tăng cường liên kết vùng, phát huy lợi thế nhằm tối ưu hóa nguồn lực trong phát triển. Mở rộng hợp tác phát triển, thực hiện liên kết vùng với các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Vùng Đồng bằng sông Hồng, trong đó tập trung liên kết trong lĩnh vực: sản xuất và cung ứng sản phẩm nông nghiệp sạch, đào tạo nguồn nhân lực, dịch vụ vận tải kho bãi, dịch vụ tài chính,..với các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long (Quảng Ninh). Hợp tác với các địa phương trong Vùng Thủ đô trong phát triển chuỗi đô thị, công nghiệp và dịch vụ trên cơ sở khai thác lợi thế của tuyến đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng.

c. Tăng cường công tác lập quy hoạch, quản lý quy hoạch và phát triển đô thị

Nâng cao chất lượng công tác lập và thực hiện quy hoạch, nhất là quy hoạch đất đai, quy hoạch ngành, sản phẩm chủ yếu, quy hoạch xây dựng, quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn. Tăng cường công tác quản lý quy hoạch, thanh tra, kiểm tra, kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm; từng bước hình thành hệ thống đô thị có kết cấu hạ tầng hiện đại. Tăng cường quản lý thị trường bất động sản, khuyến khích phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân. 

2. Phát triển văn hóa, xã hội

a. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tạo bước chuyển biến về chất trong công tác hướng nghiệp dạy nghề. Đẩy nhanh xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư xây dựng trường học; thực hiện tốt chính sách hỗ trợ học sinh thuộc diện gia đình chính sách, khó khăn. Rà soát, cơ cấu lại các cơ sở đào tạo, dạy nghề và nâng cao chất lượng. Thực hiện tốt chương trình đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao.

b.  Chủ động làm tốt công tác y tế dự phòng, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân, chất lượng dân số, gia đình và trẻ em

Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động y tế, khuyến khích phát triển bệnh viện ngoài công lập, phòng khám đa khoa tư nhân với các chuyên khoa có chất lượng cao. Tăng cường đầu tư các bệnh viện chuyên khoa cấp tỉnh, bệnh viện cấp huyện, cơ sở y tế cấp xã, khắc phục cơ bản tình trạng quá tải ở tuyến tỉnh. Thực hiện tốt công tác y tế dự phòng, tăng cường vệ sinh an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh công tác đào tạo, thu hút cán bộ y tế, nâng cao chất lượng chuyên môn, y đức của đội ngũ cán bộ y tế. Thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật về dân số; hạn chế mức sinh, giảm tỉ lệ sinh con thứ 3 và mất cân bằng giới tính khi sinh; nâng cao tuổi thọ trung bình của người dân, chăm sóc và phát huy tốt vai trò của người cao tuổi. 

c. Phát triển đồng bộ văn hóa, thể thao; xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hải Dương đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững

Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, thực hiện mục tiêu xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ; gìn giữ, phát huy nét đẹp truyền thống của con người Xứ Đông. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” theo hướng thực chất, hiệu quả. Thực hiện tốt công tác bảo tồn di sản văn hóa, tiếp tục đầu tư xây dựng, trùng tu các di tích, công trình văn hóa, lịch sử, lễ hội truyền thống gắn với phát triển du lịch. Hoàn thành trùng tu, tôn tạo khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn - Kiếp Bạc, hướng tới đề nghị UNESCO công nhận di sản thế giới trong quần thể Yên Tử, Côn Sơn - Kiếp Bạc, chùa Vĩnh Nghiêm. Tăng cường sự đầu tư của nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa xây dựng thiết chế và phát triển các hoạt động văn hóa, thể thao. Nâng cao chất lượng hoạt động văn học nghệ thuật.

d. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển bưu chính, viễn thông, báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình theo hướng hiện đại 

Phát triển hạ tầng thông tin trong các cơ quan Đảng, hành chính nhà nước, MTTQ và các đoàn thể; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, xây dựng nền tảng “Chính quyền điện tử” của tỉnh. Tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng các dịch vụ bưu chính, viễn thông, Internet băng rộng, truyền hình trả tiền. Nâng cấp hệ thống phát thanh, truyền hình, truyền thanh cơ sở. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản, in ấn, phát hành.

đ. Thực hiện tốt công tác lao động, việc làm, giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân

Nâng cao hiệu quả đào tạo và dạy nghề, đáp ứng nhu cầu lao động của xã hội, phấn đấu hàng năm tạo việc làm mới cho trên 3,2 vạn lao động, trong đó xuất khẩu lao động 5.000 người. Tăng cường quản lý nhà nước về lao động; đảm bảo các quyền lợi hợp pháp của người lao động. Phát triển, mở rộng và thu hút các thành phần xã hội tham gia bảo hiểm xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách đối với người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội; chính sách đối với trẻ em, bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội. Thực hiện tốt chính sách giảm nghèo, huy động hiệu quả các nguồn lực tham gia giúp đỡ người nghèo, khó khăn.

3. Lĩnh vực khoa học và công nghệ, quản lý tài nguyên và môi trường

a. Quan tâm đầu tư và khuyến khích đổi mới hoạt động khoa học và công nghệ

Nâng cao hiệu quả nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, bảo vệ môi trường; thực hiện cơ chế đặt hàng, cơ chế quản lý theo quỹ và khoán nhiệm vụ đến sản phẩm cuối cùng. Tăng dần tỷ lệ đầu tư gắn với đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ; có chính sách khuyến khích xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong tỉnh. Thực hiện thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ và phát triển thị trường công nghệ.

b. Quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả đất đai và các loại tài nguyên khoáng sản

Quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả đất đai và các nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh; xử lý nghiêm các hành vi khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất; tăng cường công tác quản lý, sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch; thực hiện công tác thu hồi, giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo quy định. Từng bước hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai.

c. Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ môi trường

Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật về bảo vệ môi trường; phân cấp và quy định rõ trách nhiệm của các ngành, các cấp, cơ quan, doanh nghiệp trong quản lý và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; công tác quản lý và bảo vệ rừng. Thực hiện nghiêm việc xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu đô thị; ưu tiên nguồn lực đầu tư xử lý rác thải ở khu vực nông thôn và xây dựng các nhà máy xử lý rác thải tập trung. Tăng cường quản lý nhà nước, kiểm tra và xử lý kiên quyết các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. 

4. Công tác quốc phòng, an ninh, thanh tra, tư pháp

a. Tiếp tục củng cố vững chắc quốc phòng quân sự địa phương

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với công tác quốc phòng, an ninh. Tiếp tục quán triệt, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Chăm lo xây dựng và củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong khu vực phòng thủ. Thực hiện tốt công tác phòng chống lụt, bão, tìm kiếm cứu nạn và phòng chống cháy nổ, cháy rừng; xây dựng lực lượng thường trực, dân quân tự vệ, dự bị động viên; huấn luyện, diễn tập, hội thi, hội thao. Hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyển quân, tuyển sinh quân sự hằng năm và thực hiện chính sách hậu phương quân đội.

b. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định để phát triển

Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh quốc gia, Chương trình Quốc gia phòng, chống tội phạm và ma tuý. Nắm chắc tình hình, chủ động dự báo, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch đe dọa đến an ninh quốc gia. Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm, phấn đấu đạt tỷ lệ khám phá án từ 75% trở lên, trong đó trọng án đạt 90% trở lên. Duy trì thực hiện hiệu quả đề án "Xây dựng làng an toàn, khu dân cư an toàn, doanh nghiệp, cơ quan an toàn về an ninh trật tự". Tăng cường vai trò của cơ quan quản lý nhà nước và sự tham gia của cả hệ thống chính trị để giảm tình trạng vi phạm pháp luật về an toàn giao thông.

c. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra

Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đất đai, đầu tư, môi trường, quản lý tài chính, lao động và thực hiện chính sách xã hội nhằm ngăn chặn hành vi tham nhũng, tiêu cực và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành thanh tra với các cấp uỷ, chính quyền và các sở, ngành trong thực hiện kết luận thanh tra, kiểm tra. Giải quyết nhanh chóng, hiệu quả, đúng quy định pháp luật đối với các vụ việc khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở.

d. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách tư pháp 

Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật trên các lĩnh vực, nâng cao chất lượng của hoạt động bổ trợ tư pháp. Đẩy mạnh cải cách tư pháp gắn với nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, nhất là các vụ án điểm, án đặc biệt nghiêm trọng, dư luận xã hội quan tâm. Đổi mới công tác quản lý, điều hành, thực hiện công khai minh bạch các hoạt động của ngành Kiểm sát và Tòa án.

5. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế

Chủ động nắm bắt thời cơ hội nhập, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp tốt giữa công tác xúc tiến thương mại với xúc tiến đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh vận động nguồn vốn ODA và các nguồn vốn tài trợ phi chính phủ cho phát triển kinh tế, xã hội. 

Tăng cường tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Hải Dương ra nước ngoài. Duy trì, phát triển mở rộng quan hệ hợp tác với các tỉnh, thành phố của các nước trên thế giới. Tiếp tục đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân dân, tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và nhân dân các nước, tạo môi trường ổn định, đoàn kết hữu nghị, hợp tác bền vững và hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN, MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ CÁC ĐOÀN THỂ NHÂN DÂN

1. Công tác xây dựng Đảng

a. Đổi mới và đẩy mạnh công tác chính trị, tư tưởng; tiếp tục thực hiện hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tập trung nâng cao hiệu quả việc làm theo gương Bác và thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. 

Đổi mới hình thức và nâng cao chất lượng công tác quán triệt, triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và công tác bồi dưỡng giáo dục lý luận chính trị. Xây dựng và nâng cao chất lượng hệ thống tuyên giáo các cấp, đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng và tăng cường cơ sở vật chất phục vụ công tác chính trị tư tưởng. 

b. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên; nêu cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cấp ủy đảng

Đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với củng cố cơ sở đảng yếu kém; quan tâm phát triển tổ chức đảng và đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ, đảng bộ; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình; đổi mới công tác lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với hệ thống chính trị. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp uỷ các cấp và chất lượng đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị. 

c. Đổi mới và thực hiện tốt công tác tổ chức, cán bộ

Thực hiện tốt công tác tổ chức, cán bộ gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về xây dựng Đảng. Thường xuyên rà soát, xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy chế, quy định, quy trình về công tác cán bộ, chính sách cán bộ; làm tốt công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ; quan tâm cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Thường xuyên rà soát, kiện toàn cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị. Tiếp tục thực hiện có kết quả chủ trương luân chuyển cán bộ; có chính sách, cơ chế thu hút, ưu đãi và trọng dụng nhân tài. Tổ chức thi tuyển một số chức danh lãnh đạo các sở ngành. Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng công chức, viên chức. Xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, kỹ năng công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

d. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về xây dựng Đảng

Đổi mới, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra cấp uỷ các cấp; tập trung vào các tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm và trên các lĩnh vực dễ xảy ra sai phạm cũng như việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát việc khắc phục những hạn chế, yếu kém sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Quan tâm giải quyết kịp thời, đúng quy trình các đơn thư khiếu nại, tố cáo. Thực hiện đúng phương châm, nguyên tắc kỷ luật trong Đảng; xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm.

đ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận

Tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức về quan điểm, chủ trương của Đảng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận tới mọi cán bộ, đảng viên. Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng đối với nhiệm vụ công tác dân vận trong cả hệ thống chính trị. Phối hợp chặt chẽ và thực hiện nghiêm Quy chế công tác dân vận. Gắn việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ của công tác dân vận với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể.

e. Nâng cao hiệu quả công tác nội chính; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chỉ đạo, đôn đốc các cơ quan, địa phương, đơn vị thực hiện triệt để, đồng bộ các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí. Tăng cường công tác phối hợp giữa các ban ngành, địa phương, nhất là các cơ quan trong khối nội chính thực hiện hiệu quả công tác đấu tranh, phát hiện và ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng.

2. Công tác xây dựng chính quyền

a. Tiếp tục đổi mới hoạt động của Hội đồng nhân dân 

Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan thường trực của HĐND các cấp theo hướng tăng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách. Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp; nhất là tổ chức tốt các kỳ họp HĐND, hoạt động giám sát, chất vấn, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, đôn đốc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Tăng cường vai trò, trách nhiệm, nâng cao năng lực của thường trực, các ban HĐND và các đại biểu HĐND các cấp; phối hợp tốt hoạt động giữa thường trực HĐND, UBND với MTTQ cùng cấp. 

b. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân

Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của UBND, các phiên họp UBND và lãnh đạo UBND. Rà soát, bổ sung quy chế làm việc cho phù hợp với điều kiện thực tế; phân công trách nhiệm cụ thể cho các thành viên UBND và nêu cao vai trò, trách nhiệm của chủ tịch UBND các cấp trong thực thi nhiệm vụ; tập trung cụ thể hóa và chỉ đạo thực hiện hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, chủ trương của cấp ủy và quyết định của HĐND. 

c. Đẩy mạnh cải cách hành chính

Tiếp tục triển khai, thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 theo Nghị quyết 30c/NQ-CP của Chính phủ. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tập trung xây dựng và thực hiện giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa" tại UBND các cấp trong tỉnh. Triển khai thực hiện đề án vị trí việc làm và tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức đi đôi với nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ, cải tiến tác phong, lề lối làm việc.

Tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp theo các nghị định của Chính phủ. Tập trung rà soát, sắp xếp lại và quản lý chặt chẽ các đơn vị sự nghiệp công lập; đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ và xã hội hoá các hoạt động dịch vụ công. Tăng cường phân cấp quản lý cho chính quyền các cấp; rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về phân cấp quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của chính quyền các cấp. Đổi mới mạnh công tác cải cách tài chính công. 

3. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng đối với hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Quan tâm xây dựng và củng cố tổ chức, phát triển thành viên, hội viên, đoàn viên, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động, tập trung cho cơ sở. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước. Tổ chức thực hiện hiệu quả Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.  

Mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong nhiệm kỳ 2015 - 2020 là hết sức to lớn, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, tiếp tục nâng cao đời sống của nhân dân, đồng thời tạo đà cho sự phát triển của những nhiệm kỳ tiếp theo. Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh phát huy truyền thống văn hiến và cách mạng, tăng cường đoàn kết, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thử thách, nỗ lực phấn đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị do Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đề ra; phấn đấu xây dựng tỉnh Hải Dương sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây